• Chào mừng bạn đến với Diễn đàn đá tự nhiên - Natural stone forum - NSF.VN >> Hãy đọc kỹ nội quy khi tham gia diễn đàn >> Nghiêm cấm Spam dưới mọi hình thức >> Hệ thống tên miền chính của diễn đàn: www.nsf.vn || www.stonecare.vn || www.stonecare.com.vn || www.naturalstone.vn || www.naturalstone.com.vn ||
    1. Diễn đàn đá tự nhiên | NSF.VN - Là kênh thông tin số 1 về ngành đá tự nhiên tại Việt Nam, NSF.VN không chỉ cung cấp thông tin nhanh, chính xác, khách quan đến bạn đọc mà còn là nơi tư vấn, giải đáp những thắc của bạn đọc về các lĩnh vực liên quan tới đá tự nhiên như: kiến trúc xây dựng, phong thủy, nội-ngoại thất, pháp lý nhà đất...

      NSF.VN đang và sẽ trở thành một thư viện về ngành đá, hiện nay NSF.VN đang hợp tác cùng các chuyên gia uy tín trong lĩnh vực Kiến trúc, Phong Thủy, Văn bản pháp luật xây dựng. Nếu có nhu cầu tư vấn, bạn đọc hãy đặt câu hỏi tại đây, NSF.VN sẽ kết hợp cùng các chuyên gia giải đáp những thắc mắc của bạn đọc trong thời gian sớm nhất.

    Các khái niệm cơ bản về đá tự nhiên

    Discussion in 'Template Library' started by Stonecare, May 13, 2014.

    1. Stonecare
      Offline

      Stonecare Staff Member

      Joined:
      Sep 6, 2013
      Messages:
      842
      Likes Received:
      17
      Trophy Points:
      101
      Location:
      Hà Nội
      Home page:
      Credit:
      44,543,702,860,172VND
      Facebook Profile
      Twitter Profile
      Google+ Profile
      Yahoo! Messenger
      Skype
      Map Profile
      0903295454


      MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ĐÁ TỰ NHIÊN

      1. Đá xanh (hay gọi là Bluestone)

      Về thạch học có thể nói rằng, đá xanh được hiểu là một loại đá vôi cứng có nguồn gốc từ đá trầm tích, là kết quả của việc tích tụ của vô số các loại huệ biển (được tạo thành do sự tích tụ xác vô cơ của các loại động vật và thực vật sống trong nước biển). Chúng được kết tinh bởi các lớp vi tinh thể chứa carbone rất mịn tạo nên màu xanh đặc trưng đối với dòng đá này.

      2. Đá cẩm thạch (hay gọi là đá Marble)

      Marble được hình thành do sự biến đổi của đá vôi tạo ra sự kết tinh của khoáng chất canxi và các tinh thể đolomit. Do quá trình thay đổi nhiệt độ, áp suất và những điều kiện khác, các khoáng chất kết tinh đã hình thành nên đáMarble. Các hạt tinh thể có kích cỡ khác nhau nhỏ, trung bình, đến lớn tạo ra các khối đá có màu sắc và vân hoa riêng biệt.

      Đặc trưng của vật liệu này chính là sự đa dạng về màu sắc và vân hoa được tạo nên từ các loại chất với tỷ trọng khác nhau được hình thành trong quá trình kết tinh của đá. Do vân hoa và màu sắc khác nhau như vậy, đã tạo nên vẻ đẹp duy nhất của mỗi loại đá tự nhiên, đặc biệt là Marble.

      3. Đá hoa cương (hay còn gọi là Granite)

      Granite ra đời cùng với sự hình thành của trái đất, là một dạng của Macma lỏng phun trào ra khỏi lòng đất, khi nguội trở thành một chất có độ bền và cứng như kim cương.Granite là một loại đá lửa, tên của loại đá này đã nói lên được nguồn gốc của nó. Cấu tạo của đá Granite giống như cấu tạo của nham thạch, tuy nhiên độ cứng và tỷ trọng của Granite có được là do sức nén mạnh với áp suất cao trong lòng đất. Trải qua hàng triệu năm, các tác động của địa chất đã làm thay đổi bề mặt trái đất và đẩy các vỉa Granite lên trên bề mặt. Quá trình tan dần của các sông băng đã kéo trôi đi lớp đất đá trên bề mặt và làm lộ các tầng đá Granite. Với đặc thù của đá Granite là lớp ngoài lộ trên mặt đất, nên chúng được tìm thấy trên tất cả các Châu lục trên trái đất.

      4. Travertine ( Việt Nam gọi là đá ong)

      Là dạng vật chất giữa hai loại Marble và đá vô, nó được hình thành theo thời gian từ những lớp đất nằm sâu trong lòng đất ở những con sông, suối và những mạch nước ngầm đầu nguồn. có độ bền và khả năng chống chịu cao, không hề bị biến dạng do bất kỳ yếu tố nào gây ra.

      Đặc tính cơ bản của Trvertine là có những lỗ hổng giống như tổ ong do quá trình tạo bởi sự rò rỉ của khí gas trong suốt quá trình hình thành của đá. Những lỗ nhỏ trong cấu tạo đá được lấp kín với vật liệu phù hợp như Ximăng, poliexte, nhựa thông hay với những chất khác với màu sắc phù hợp với màu của đá, trong các nhà máy, xí nghiệp hay các khu mỏ khai thác, mặc dù vậy những người khai thác sẽ hài lòng khi đá có nhiều lỗ hổng trong quá trình khai thác.

      5. Onyx

      Là sự kết hợp từ nước và quá trình phân rã của đá vôi, cùng với sự chuyển hóa liên tục trong lòng đất sẽ tạo thành một loại đá mới như “đá túp”. Onyx được tìm thấy ở những nơi có nước chảy nhỏ giọt, hình thành của măng đá và thạch nhũ, đây là những tinh thể thạch anh được liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành những lớp mỏng của đá. Vì vậy, Onyx trông giống như đá quý.

      Onyx là có cấu tạo giống bọt biển, nên đặc tính cơ bản là giòn và dễ gẫy. Đá Onyx rất khó dùng trong xây dựng, nhưng lại rất đẹp và sử dụng tốt trong trang trí. Onyx không chỉ là loại đá đẹp, mà nó thể hiện được sự tinh tế, sang trọng và thu hút được sự chú ý của mọi người ở mọi nơi

      6. Bazalt

      Đá Basalt là loại đá phun trào mafic, có hàm lượng oxit silic dưới 52%, thành phần hoá học tương ứng với đá xâm nhập gabro, màu sẫm, thành phần khoáng vật gồm labrađo, piroxen, olivin. Basalt tạo nên những lớp phủ rộng lớn ở Việt Nam, nhất là ở Tây Nguyên và Nam Bộ. Sự phong hoá của đá Basalt đã dẫn tới sự thành tạo đất đỏ, đất đỏ nâu màu mỡ hoặc quặng bauxit. Đá baslt đun nóng chảy có thể kéo sợi làm bông thuỷ tinh, hoặc đúc làm vật liệu chịu axit.

      7. Đá cát kết

      Còn gọi là đá cát kết, tên cũ là đá sa thạch. Là đá trầm tích vụn cơ học, do các hạt cát gắn kết lại với nhau bởi xi măng, canxi, oxit sắt,vv. Tùy theo từng loại xi măng mà đá Sandstone có màu sáng, xám, lục đỏ, …Sandstone dùng làm cối đá, làm đá xây dựng. Sandstone có chứa Urani, đồng do vậy có thể khai thác để lấy Urani, đồng nếu hàm lượng quặng đủ cao.

    Share This Page

    Ban Ten Mien
    HUMITSU LED LIGHT FROM JAPAN